Tuyên truyền về quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản
Ngày đăng 24/08/2018 | 09:29 | Lượt xem: 293

Tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên khoáng sản nói riêng của Việt Nam đa dạng, phong phú nhưng có trữ lượng không lớn và phân bố không đồng đều, nếu không sử dụng, thiết thực, hợp lý, khai thác bừa bãi thì sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Điều này được thể hiện rõ trong hệ thống pháp luật về khoáng sản. Pháp luật về khoáng sản từ trước đến nay đều tập trung vào mục đích nâng cao năng lực quản lý và trách nhiệm bảo vệ tài nguyên khoáng sản của Ủy ban nhân dân các cấp. Ngày 28 tháng 7 năm 1989, Hội đồng nhà nước đã thông qua Pháp lệnh số 22-LCT/HDNN8 về tài nguyên khoáng sản; Ngày 20 tháng 3 năm 1996, Quốc hội đã thông qua Luật khoáng sản số 47-l/CTN; Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội thông qua Luật khoáng sản số 46/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản 1996. Gần đây nhất, Luật khoáng sản số 60/2010/QH12, được Quốc hội Khóa XII thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 đã có những điều khoản quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là UBND cấp xã và người dân nơi có khoáng sản. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, bảo vệ quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác. Thực thi chính sách bảo đảm hài hòa lợi ích giữa "Nhà nước – Người dân – Doanh nghiệp", Điều 5, Luật khoáng sản 2010 quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đối với địa phương nơi có khoáng sản được khai thác như: hỗ trợ chi phí đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật và xây dựng công trình phúc lợi; kết hợp khai thác với xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ và phục hồi môi trường. Mặt khác, Luật cũng quy định, nếu tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản gây thiệt hại đến hạ tầng kỹ thuật thì tùy theo mức độ phải có trách nhiệm sửa chữa, duy tư, xây dựng mới hoặc bồi thường; phải ưu tiên sử dụng lao động là người địa phương vào hoạt động có liên quan… Luật cũng quy định Nhà nước cần điều tiết khoản thu từ hoạt động khai thác khoáng sản để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước đối với địa phương nơi có khoáng sản được khai thác.

Thứ hai, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác. Điểm mới của Luật là đã quy định cụ thể trách nhiệm bảo vệ khoáng sản chưa khai thác của tổ chức, cá nhân tại Điều 17, bao gồm: tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản, cá nhân sử dụng đất cũng như trách nhiệm của các tổ chức lập quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn. Đồng thời quy định cụ thể trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 18), trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như các Bộ liên quan (Điều 19). Đồng thời, để tạo cơ sở pháp lý cho các địa phương chủ động bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, Điều 20 của Luật khoáng sản 2010 quy định "Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác" và bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm. Đặc biệt về vấn đề này, đối với Ủy ban nhân dân cấp xã, Điểm 3, Điều 18, Luật khoáng sản 2010 quy định: trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân cấp xã/phường có trách nhiệm phát hiện và kịp thời ngăn chặn các hoạt động khoáng sản trái phép và phối hợp với các cơ quan chức năng bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn.

Có thể nói, việc thực hiện tốt trách nhiệm của UBND cấp xã/phường và người dân nơi có khoáng sản có ý nghĩa quan trọng đến hiệu quả công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và bảo vệ khoáng sản chưa khai thác cũng như hiệu quả hoạt động khoáng sản trên địa bàn địa phương.